Hiệu quả của phương pháp lây nhiễm hoá chất dạng bột phụ thuộc vào tỷ lệ số lượng cá thể của quần tộc ( Theo Nguyễn Chí Thanh, 1996 tỷ lệ tối thiểu cần thiết là 15%), quãng đường từ nói mối bị phun thuốc chạy về đến tổ và liệu lượng thuốc được phun trên mỗi cá thể mối. Hiệu quả diệt mối chỉ đạt yêu cầu khi tỷ lệ cá thể mối bị phun thuốc đáp ứng được tỷ lệ cần thiết, nơi nhử mối cách tổ chính trong phạm vi cho phép, liều lượng thuốc phun trên mỗi cá thể mối hợp lý.Phương pháp diệt mối bằng cách phun hoá chất độc lên đàn mối kiếm ăn đã đượ sử dụng phổ biến ở nhiều nước trước những nưam 80 của thế kỷ 20. Nguyên lý diệt mối của phương pháp này là: sau khi nhóm mối đi kiếm ăn bị phun hoá chất độc sẽ rút chạy về tổ, làm lây truyền thuốc độc sang các cá thể mối khác thông qua các hoạt động: tiếp xúc,vệ sinh và trao đổi thức ăn cho nhau. Do đó, người ta gọi phương pháp này là phương pháp lây nhiễm hoá chất độc dạng bột.
Hiệu quả của biện pháp Diệt mối bằng phương pháp phun thuốc lây nhiễm hoá chất độc dạng bột phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ số lượng mối nhử được, tỷ lệ số lượng cá thể bị phun thuốc càng lớn thì khả năng mang được thuốc độc về tổ càng nhiều. Liều lượng thuốc được phun cũng rất quan trọng, nêu phun quá nhiều, mối chết ngay tại chỗ, hay không đủ sức chạy về tổ hoặc phun ít quá thì lượng thuốc mang về không đủ và tổ mối không bi tiêu diệt. Quãng đường từ nơi bị phun thuốc về tổ cũng là yếu tố rất quan trọng. Quãng đường mối di chuyển càng xa lượng thuốc rơi rụng và số lượng mối bị chết trên đường càng nhiều, dẫn đến lượng thuốc không đủ để nhiễm độc cho tổ.
Các loại chất độc được dùng cho phương pháp này thường là các hợp chất vô cơ của các kim loại nặng như: Hg; As.. Do các chất này gây nguy hại cho con người và môi trường, nên đã bị cấm sản xuất và sử dụng. Hiện nay có một số nghiên cứu tìm cách sử dụng các loại thuốc độc khác để thay tế các loại thuốc đã bị cấm. Tuy có một số thành công ban đầu nhưng chưa có loại nào được khẳng định áp dụng phổ biến.
Phương pháp lây nhiễm hoá chất động dạng bột thường chỉ được áp dụng thành công đối với các loài thuộc nhóm mối gỗ ẩm. Nhưng có nhiều hạn chế, nhất là gây độc hại với môi trường, nên hiện nay phương pháp này hầu như không được áp dụng ở các nước khác.
Tác giả: Nguyễn Tân Vương
Thẩm định: TS. Trịnh Văn Hạnh
Thẩm định: TS. Trịnh Văn Hạnh















